e) Tiêu hóa yếm khí (Anaerobic Digestion, Hình 10.7)
Đây là quá trình sinh học trong đó khí methane được thải ra từ sự phân hủy các vật chất hữu cơ của các vi sinh vật trong môi trường không có oxy. Khí methane này có thể được thu hồi và sử dụng để tạo ra năng lượng. Quá trình tiêu hóa yếm khí sử dụng các chất thải sinh học như phân hữu cơ và các chất thải rắn đô thị. Phân hoặc chất thải được đóng gói và phân hủy bởi vi sinh vật và nước. Quá trình này thải ra khí mê tan trong gói, và khí này được dẫn vào một gói chứa khí khác. Từ đó, khí methane đươc dùng để cung cấp năng lượng cho turbine và tạo ra điện.
Ở mức độ phân tử, thủy phân chuyển hóa các chất hửu cơ thành đường và amino acid. Quá trình lên men các vật chất này sinh ra các acid chất béo dễ bay hơi. Các acid chất béo này sau đó tạo thành hydrogen, CO2, và acetate trong quá trình Acidogenesis. Cuối cùng, quá trình methanogenesis sản xuất các khí sinh học, hỗn hợp này gồm có 55-70% khí methane, 25-35 % CO2 và các chất vi lượng như nitrogen và hydrogen sulfide. Trong môi trường yếm khí, khí mê tan có thể được thu hồi và sử dụng nhằm cung cấp năng lượng cho turbine khí hoặc thậm chí các pin nhiên liệu.
Sự sinh trưởng của vi sinh vật và sản xuất khí sinh học là rất chậm ở nhiệt độ bình thường. Quá trình phân hủy yếm khí thường xảy ra một cách tự nhiên khi nồng độ của các vất chất hữu cơ ẩm cao trong môi trường không có oxy, thường là ở đáy ao hồ, đầm lầy, bãi than bùn, ruột động vật và các khu vực yếm khí của các bãi chôn lấp. Năng suất cúa quá trình này phụ thuộc vào thành phần và khả năng có thề phân hủy được của các nguyên liêu chất thải. Tuy nhiên, tốc độ của quá trình này phụ thuộc vào mật độ của các vi sinh vật, các điều kiện sinh trưởng của chúng và nhiệt độ của quá trình lên men.
Khi được sử dùng như một quá trình xử lý chất thải, tốc độ phân hủy tăng khá cao trong khoảng nhiệt độ 20-40 độ C. Đối với các chất thải rắn đô thị, tốc độ phân hủy có thể được tăng cao ở nhiệt độ cao hơn như 50-60 độ C.
Các vi sinh vật phân hủy yếm khí được bán trên thị trường với các giá khá cạnh tranh, chúng được dùng trong các trang trại mặc dù ở quy mô nhỏ. Việc sử dụng methane bằng cách này có thể giúp giảm thiểu các mùi hôi thối và ngăn chặn chúng phát tán vào không khí, làm tăng các khí nhà kính và gây ra sương mù.
f) Khí chôn (Landfill Gas, Hình 10.8)
Landfill gas sử dụng kỹ thuật tương tự như digestion yếm khí và có những thuận lợi tương tự. Landfill gas là sản phẩm phụ của quá trình phân rã chất thải dạng rắn, với thành phần bao gồm 50% khí methane, 45% CO2 và 4% Nitơ. Hơn nữa, đây cũng là một biện pháp tích cực giúp giảm tỷ lệ sử dụng đất chứa rác thải, qua việc chôn rác để chuyển thành điện.2 cách để thu khí landfill là:
i) biện pháp truyền thống là khoan thông thường (conventional drilling) và
ii) thu đẩy (push-in). Thông thường, trước khi bơm thu hồi khí, người ta lập bản đồ cấu trúc 3 chiều của bể chôn rác để xác định các vị trí tụ khí và vị trí tối ưu để khoan. Phương pháp khoan truyền thống sử dụng kỹ thuật khoan thông thường với một số cải tiến kỹ thuật phù hợp với khu vực khoan. Các ống dẫn có thể được lắp đặt thẳng đứng, giúp việc thu hồi khí tiện lợi nhanh chóng. Phương phápthu đẩy sử dụng bản đồ 3 chiều để tìm các giếng khí và có thể được sử dụng cho các vị trí khoan riêng biệt nếu cần thiết.
g) Hệ thống môđun
Các hệ thống mođun sử dụng các kỹ thuật tương tự như mô tả ở trên, nhưng ở qui mô nhỏ hơn. Các hệ thống này có thể được phổ biến tại các khu vực làng xã, nông trại hoặc công nghiệp qui mô nhỏ. Các hệ thống dạng này hiện đang được nghiên cứu phát triển và có thể đóng vai trò hữu ích trong tương lai ở những khu vực giàu nguồn sinh khối và có nhu cầu điện tăng cao, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển.
4. Các tác động về môi trường
Các nhiên liệu sinh học không độc hại và có thể được phân hủy dễ dàng, Mỗi gallon nhiên liệu sinh hoc được sử dụng giúp giảm sự nguy hại của sự rò rỉ các sản phẩm dầu mỏ đôc hại từ các thùng chứa dầu và các ống dẫn bị rò. Ngoài ra, việc sử dụng nhiên liệu sinh học giảm thiểu các mối nguy hại ô nhiễm nguồn nước ngầm từ các thùng chứa xăng ngầm, và nguy cơ cạn kiệt dầu động cơ và nhiên liệu cho xe cộ.
Các phương tiện vận chuyển thải ra khi CO2, một loại khí góp phần gây ra sự nóng dần lên toàn cầu. Việc đốt cháy các nhiên liệu sinh học cũng thải ra khi CO2, tuy nhiên nhiên liêu sinh học đươc tạo ra từ cây cối trước đó hấp thu chính lượng khí CO2 trong không khí cho cây phát triển, giúp cân bằng lượng khí CO2 trong không khí. Khí CO2 được thải ra khi sinh khối được chuyển thành nhiên liệu sinh học và được đốt cháy trong các xe tải hoặc các động cơ di chuyển tự động. Lượng khí CO2 này lại được hấp thu trở lại khi các nguồn sinh khối mới được trồng nhằm sản xuất thêm nhiên liệu sinh học. Phụ thuộc vào bao nhiêu năng lượng hóa tạch được dùng cho nuôi trồng và chế biến sinh khối, lượng khí thải nhà kính có thể được giảm thiểu. Các hệ thống dùng bắp hiện đại, năng suất cao sinh ra năng lượng khá lớn, tuy nhiên lượng khí thải nhà kính trong sản xuất ethanol từ bắp vẫn vào khoàng 20%. Sản xuất dầu diesel sinh khối từ đậu nành giảm lượng khí thải đến 80%. Sản xuất ethanol từ các chất liệu cellulose cũng sinh ra điện năng trong quá trình đốt chất lignin không thể lên men. Kết hợp giảm thiểu sử dụng gasoline và sản xuất điện từ nhiên liệu hóa thạch có thể giảm hơn 100% lượng khí thải nhà kính.
Điện sinh khối thường được tạo ra thông qua các nhà máy dùng nồi nấu sôi/ turbine hơi nước. Tuy nhiên có 3 sự khác biệt: nhiên liệu có thể tái tạo, thành phần sulfur trong nhiên kiệu sinh khối thấp hơn 0,1% và sinh ra ít chất ô nhiễm không khí. Các lợi ích khác về môi trường của điện sinh khối bao gồm:
+ Giảm lượng khí thải sulfur dioxide: Hầu hết các dạng sinh khối có lượng lưu hùynh rất nhỏ, do đó các nhà máy điện sinh khối thải ra rất ít khí SO2, một tác nhân của mưa axit. Tuy nhiên, than đá có tới 5% SO2. Sinh khối kết hợp với than đá có thể giảm thiểu một cách đáng kể lượng khí thải SO2 của các nhà máy điện so với các hệ thống chỉ sử dụng mỗi than đá.
+ Giảm lượng khí thải Nitrogen Oxide (NO): Các lần thử nghiệm gần đây ở các nhà máy điện sử dụng kết hợp sinh khối và than đá ở Mỹ cho thấy rằng có thể cắt giảm lượng NOx thải ra so với các nhà máy chỉ sử dụng than đá. Với sự điều chỉnh hợp lý và cẩn thận của quá trình đốt cháy, lượng NOx giảm đi 2 lần so với lượng sinh khối cần dùng để cung cấp nhiệt cho hệ thống.
+ Giảm thải lượng cacbon: Cây hấp thu CO2 trong chu kỳ tăng trưởng trong khi điều chỉnh trong một chu kỳ vững bền, giống như việc trồng các cây giống cây năng lượng hoặc tái trồng các khu vực đã thu hoạch. Các nhà máy điện sinh khối có thể đươc xem như là một cách để tái sinh carbon. Do đó, các nhà máy điện sinh khối là các hệ thống cân bằng lượng cacbon (không sinh ra cacbon).
+ Giảm thiểu các lượng chất thải khác: Các bãi chôn lấp sản sinh khí mêtan từ các vật chất sinh khối bị phân hủy. Chất thải đông vật bị phân hủy, chúng có thể được hấp thu vào đất hoặc không được che đậy trong các hố cũng tạo ra khí me tan. Mêtan, là một trong các khí chính của khí thiên nhiên, thường được thải trực tiếp vào không khí, nhưng nó có thể được thu hồi và sử dụng như một dạng nhiên liệu cho việc sản xuất điện và nhiệt.
+ Giảm các mùi hôi thối: Việc sử dụng phân đông vật và khí sinh ra ở các bãi chôn lấp trong sản xuất điện năng có thể giảm các mùi hôi thối ở các bãi rác.
+ Các lợi ích môi trường của các sản phẩm từ sinh khối: Nhiều sản phẩm được làm từ dầu mỏ có thể được làm từ sinh khối tái sinh. Các phân tử chủ yếu trong dầu mỏ là hydrocarbon. Trong các nguồn sinh khối, các phân tử chủ yếu là carbohydrates, proteins, và dầu thực vật. Các phân tử của cả cây và dầu mỏ có thể được chế biến để tạo ra các chất xây dựng trong công nghiệp nhằm sản xuất các sản phẩm đa dạng, bao gồm nhựa, dung môi, sơn, chất kết dính và thuốc.
Trong thế kỷ trước, hydrocarbon là dạng nguyên liệu chủ yếu đươc dùng trong công nghiệp. Tuy nhiên, dầu mỏ không phải là nguồn nhiên liệu vô tận, nó có thể bị biến mất một cách đang kể khi dân số thế giới tiếp tục gia tăng như hiện nay và mức sống ở các nước đang phát triển được cải thiện. Nguồn sinh khối tái sinh sẽ là một cách hỗ trợ nguồn hydrocarbon và đáp ứng được nhu cầu về sản phẩm tiêu dùng trên thế giới. Chúng ta đang chứng kiến sự xuất hiện của các hóa chất công nghiệp và thương mại, dược phẩm và các sản phẩm dựa trên sinh khối. Sử dụng các sản phẩm này ở mức độ lớn có thể giúp giảm thiểu sự phụ thuộc dầu mỏ đồng thời bảo vệ môi trường.
5. Giá thành sản xuất
Có nhiều mức giá thành của Năng lượng sinh khối, tùy thuộc vào kỹ thuật khai thác và dạng sinh khối khai thác. Một cách tóm tắt, mỗi dạng kết hợp giữa các nguyên liệu sinh khối khác nhau và các kỹ thuật chuyển đổi năng lượng tương ứng với mức giá thành khác nhau.
5.1. Nguyên liệu
Nếu chỉ để tự cung cấp trong ngành lâm nghiệp, thì sinh khối hầu như có giá thành không đáng kể. Nếu mua sinh khối từ các cơ sở lâm nghiệp thì giá thành dao động từ 0,5-3,0 USD/mBtu. Các dự án khai thác thành công có mức thu mua nguyên liệu có giá thành dưới 1,5 UDS/mBtu[xvii].
Nếu chỉ để tự cung cấp trong ngành lâm nghiệp, thì sinh khối hầu như có giá thành không đáng kể. Nếu mua sinh khối từ các cơ sở lâm nghiệp thì giá thành dao động từ 0,5-3,0 USD/mBtu. Các dự án khai thác thành công có mức thu mua nguyên liệu có giá thành dưới 1,5 UDS/mBtu[xvii].
Đối với nguồn bã nông nghiệp, nguồn nguyên liệu lớn nhất hiện nay trên thế giới là rơm khô (corn stover) và vỏ trấu lúa mì (wheat straw). Rơm có giá thành khoảng 30 USD/tấn, vỏ trấu lúa mì dao động từ 32-54 USD/tấn. Cho đến năm 2020, người ta tiên đoán bã nông nghiệp và lâm nghiệp sẽ có giá thành xuống còn $5/mmBtu.
Bã gỗ thành thị (mộc) và bã từ các lò xây có giá khoảng 1 USD/mmBTu, trong đó tính thêm giá thu nhặt từ 0-8 USD/tấn đối với bã ướt từ lò xây và 10-14 USD/tấn đối với bã ướt từ gỗ thành thị (mộc).
Rác thải đốt được thường được chôn với một cước phí nhất định, do vậy giá nhiên liệu là ... âm. Tuy nhiên, các nhà máy dạng này phải xử lý và phân loại chất thải để giảm khí thải độc, đồng thời phải lắp đặt các thiết bị kiểm soát khí thải.
Các nguyên liệu dạng nhẹ như củi/gỗ và thảo mộc có giá đắt hơn gắp 3 lần bã rắn/lâm nghiệp/nông nghiệp (2,5 USD/GJ so với 0.95 USD/GJ). Các cây trồng chuyên dụng (energy crop) có giá khoảng 2,3 USD/mmBtu.
Để so sánh, giá than rẻ nhất là từ 1,5-2 USD/mmBtu, khí tự nhiên là 3-4 USD/mmBtu. Nói chung, nguyên liệu sinh khối là tương đối có tính cạnh tranh so với các loại nhiên liệu đốt khác.
5.2. Giá sản xuất năng lượng
EIA dự đóan rằng giá năng lượng từ việc đốt sinh khối thông thường là 5,1 xu Mỹ/kWh, tức là chỉ đắt hơn một chút xo với giá năng lượng từ nl hóa thạch (2-4,5 xu Mỹ/kWh). Đốt liên kết thì có giá thành rẻ hơn rất nhiều, do các nhà máy nhiệt điện đã có sẳn và chi phí chỉ giới hạn ở việc thu mua xử lý nguyên liệu và nâng cấp thiết bị. Giá thành có thể từ rất thấp cho tới tối đa là 3 xu Mỹ/kWhm, đối với công trình có tỷ lệ sinh khối là 10%-20% trong tổng số nguyên liệu cho nhà máy.
Đối với landfill gas, giá năng lượng dao động từ 3,5-7,9 xu Mỹ/kWh, tùy thuộc vào qui mô đất chôn, tài chính, khoảng cách đối với lưới điện công nghiệp hoặc đến tải, và các yếu tố khác.
5.3 Liên Kết Nhiệt – Năng Lượng (Combined Heat and Power – CHP)
CHP là một mô hình cải tiến hiệu suất năng lượng của nhà máy điện. Các hệ thống CHP có khả năng thu giữ và dùng lại hơi và nhiệt thải ra từ quá trình sản xuất điện của nhà máy. Do đó, vốn đầu tư cho hệ CHP chủ yếu tập trung cho phần trang bị hế thống thu năng lượng. Một số các ước lượng cho rằng các dự án CHP có thể sản xuất điện ở giá 3,3 xu Mỹ/kWh vào năm 2010.
5.4 Nhiên liệu sinh học
Sau đây là một số thông tin về giá thành nhiên liệu sinh học tại Hoa Kỳ. Dầu diesel sinh học có nguồn gốc từ đậu nành có giá xấp xỉ từ 1,5-1,8 USD/gallon. Trong khi đó, dầu diesel từ dầu khí có giá trung bình khoảng 2,1 USD/gallon.
Ethanol có giá khoảng 1,2 USD/gallon, như vậy có thể coi là tương đối cạnh tranh so với xăng thông thường (dao động tùy thuộc vào địa phương). Tuy nhiên, do cồn có hiệu suất thấp hơn (tức là tiêu hao nhanh hơn xăng), nên để so sánh cho đúng thì phải nhân giá này lên 1,5 lần. Tuy nhiên, trong những thời điểm giá xăng tăng cao đột ngột (như lên đến trên 2 USD/gallon), thì giá cồn ở mức 1,8 USD/gallon vẫn có tính hấp dẫn nhất định.
6. Khai thác năng lượng sinh khối tại Việt Nam
6.1. Tình hình chung
Công nghệ sinh khối ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa phát triển nhiều, quá trình thương mại hóa vẫn còn rất hạn chế. Cho đến nay, sinh khối được sử dụng chủ yếu ở vùng nông thôn với quy mô nhỏ và chưa có công nghệ thích hợp. Thêm vào đó, việc ứng dụng công nghệ sinh khối ở quy mô toàn quốc mà không có chính sách quy hoạch đúng đắn sẽ dẫn đến sự thiếu hụt những hỗ trợ về mặt tài chính và kĩ thuật cho quá trình thương mại hóa.
Ở Việt Nam, tiềm năng phát triển của năng lượng tái tạo nói chung và sinh khối nói riêng ở quy mô nhỏ là khá cao. Trên thực tế, công nghệ sinh khối quy mô nhỏ là mô hình thích hợp nhất, đáp ứng nhu cầu năng lượng vùng nông thôn Việt Nam.
Hiện tại, chính sách phát triển sinh khối vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị, vẫn còn thiếu sự hợp tác giữa các bộ và cơ quan chức năng trong vấn đề này. Thực tế, những chính sách về sinh khối được nhiều bộ khác nhau phác thảo, dẫn đến việc thiếu nhất quán trong chính sách quốc gia nhằm thúc đẩy việc sử dụng năng lượng sinh khối về lâu dài. Thêm vào đó, chính phủ chưa có chính sách trợ giúp cho việc ứng dụng công nghệ sinh khối ở nông thôn, nơi mà đời sống đa số người dân còn khó khăn, nghèo khổ.
Nói chung, sự thâm nhập hiện tại của công nghệ sinh khối ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Từ trước đến giờ, người dân sống ở nông thôn thường dùng sinh khối, vốn khá dồi dào, như nguồn nhiên liệu chính nhưng với hiệu suất sử dụng năng lượng khá thấp.
6.2. Phát triển năng lượng sinh khối tại Việt Nam
a) Nguồn nguyên liệu
Là một nước nông nghiệp với dân số trên 75 triệu người (trong đó 80% sống ở nông thôn), Việt Nam có một tiềm năng sinh khối đáng kể (từ gỗ, rơm rạ, lá cây củi mục và những phần dư thừa từ quá trình sản xuất nông nghiệp hay chế biến thực phẩm v.v…).Tiềm năng của năng lượng sinh khối trong mối tương quan với dạng nhiên liệu gỗ được tóm tắt như sau:
§ Từ rừng tự nhiên: khoảng 41 triệu tấn/năm
§ Từ rừng phân tán, cây bụi v.v…: khoảng 35 triệu tấn/năm
§ Từ rừng trồng: khoảng 1-2 triệu tấn/năm
§ Từ những cây rải rác: khoảng 8-10 triệu tấn/năm
Lượng nhiên liệu gố tổng cộng khoảng 75-80 triệu tấn/năm, tương đương với 26-28 triệu tấn dầu/năm. Năng lượng sinh khối từ rơm rạ, trấu, cỏ, lá, mùn cưa và các chất thải nông nghiệp khác khoảng 30 triệu tấn/năm tương đương với 10 triệu tấn dầu/năm. Thêm vào đó, năng lượng sinh khối có nguồn gốc từ chất thải rắn hộ gia đình khoảng 0,103 triệu tấn/năm.
Tiềm năng lý thuyết của năng lượng sinh khối khoảng 3 triệu tấn/năm.
Nguồn nhiên liệu gỗ chính là rừng tự nhiên và rừng trồng, cây rải rác, cây thường niên và phần vụn thừa từ lâm nghiệp, công nghiệp khai thác gỗ.
b) Dùng năng lượng sinh khối phát điện
Có nhiều dạng sinh khối từ quá trình chế biến nông phẩm có thể được dùng như nguồn nhiên liệu đầu vào cho phát điện. Tiềm năng của nó khá cao và phần lớn gồm các loại trấu, bã mía, rơm rạ và chất thải từ các hộ gia đình.
Viện nghiên cứu năng lượng (dưới quyền của bộ Công Nghiệp) đã tiến hành một dự án về “Công nghệ sinh khối than bánh” do tổ chức SIDA của Thụy Điển và viện Công Nghệ Á Châu AIT đồng tài trợ. Mục tiêu của dự án nhằm cải thiện công nghệ than bánh và tối đa hóa hiệu suất sử dụng năng lượng trong các lò nấu hiện tại. Thành quả của dự án sẽ được phổ biến trên toàn quốc.
Trong lúc đó, có 3 nhà máy phát điện dùng bã mía. Điện năng tạo ra từ những nhà máy này sẽ được tích hợp vào lưới điện quốc gia để bán cho Tổng Công ty Điện Lực Việt Nam (EVN).
Một trạm phát điểm thí điểm vừa phát điện vừa tạo nhiệt năng (cogeneration) với công suất 50 kW, sử dụng vỏ trấu làm nhiên liệu chính đầu vào.
Cho đến năm 1996, đã có khoảng 15.000 bếp lò cố định và di dộng được cung cấp cho người dân ở nông thôn và những vùng xa xôi hẻo lánh.
c) Biogas (khí sinh học) tại Việt Nam
- Nghiên cứu quá trình hình thành biogas từ nguyên liệu hữu cơ trong phòng thí nghiệm và ứng dụng thực tế.
- Nghiên cứu thiết kế và chế tạo những thiết bị ứng dụng dùng khí sinh học như bếp lò, đèn thắp sáng và máy phát điện được hiệu chỉnh dùng khí sinh học làm nhiên liệu.
- Nghiên cứu thiết kế và chế tạo các hầm biogas với nắp di động và cố định.
- Thiết kế và lắp đặt khoảng 150 hầm biogas nhỏ ở các tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Nam Hà, Vĩnh Phú, Quảng Nam, Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Lai Châu.
- Chuyển giao công nghệ biogas cho các tỉnh Hải Hưng, Hải Phòng và Lai Châu để người dân ở đó biết được và thực thi những ứng dụng của nó.
- Một dự án các nhà máy khí sinh học ở miền Nam Việt Nam đã được đại học Cần Thơ tiến hành với sự hỗ trợ tài chính của Đức và giúp đỡ về mặt kĩ thuật của đại học Chiềng Mai (Thái Lan).
6.3. Những trở ngại cần vượt qua
Tiềm năng của việc ứng dụng công nghệ sinh khối ở Việt Nam là khá lớn bởi vì Việt Nam có đến gần 80% dân số đang sống ở nông thôn, nơi mà nguồn năng lượng sinh khối rất dồi dào. Ngoài ra, Việt Nam còn là một nước nông nghiệp nên nguồn nhiên liệu gỗ và chất thải nông nghiệp dư thừa rất phong phú.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh khối vẫn còn hạn chế ở quy mô thí điểm. Cho đến nay, vẫn chưa có một quy hoạch tổng thể nào cho việc thực thi và thương mại hóa công nghệ sinh khối. Những khó khăn trở ngại chủ yếu là:
- Thiếu quy hoạch chiến lược cho việc phát triển nguồn sinh khối.
- Thiếu sự phối hợp hài hòa giữa các bộ ngành và các tổ chức nhằm phác thảo chính sách quốc gia cho vấn đề công nghệ sinh khối và năng lượng tái tạo.
- Thiếu hụt ngân sách và hệ thống quản lý để phát triển ứng dụng công nghệ sinh khối.
- Nhà cung cấp thiết bị công nghệ sinh khối thiếu thông tin về nhu cầu thị trường tiềm năng.
- Ý thức người dân còn kém trong việc sử dụng năng lượng sinh khối cũng như công nghệ của nó.
- Thiếu mô hình tin cậy để có thể phổ biến ứng dụng công nghệ sinh khối.
7. Kết luận
Năng lượng sinh khối ngày càng thu hút được sự quan tâm của xã hội, đáng kể nhất là cho đến những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. Đó là nhờ sự kết hợp giữa những yếu tố như sau:
- Sự thay đổi một cách nhanh chóng thị trường năng lượng toàn cầu, thúc đẩy bởi tiến trình tư nhân hóa, deregulation và phân tán (decentralisation).
- Xã hội bắt đầu nhận thức một cách rộng rãi hơn vai trò hiện tại và trong tương lai của năng lượng sinh khối với vai trò như một phương thức chuyển hóa năng lượng (energy carrier), kết hợp với các dạng nltt khác
- Sự dời dào, dễ khai thác và tính chất bền vững của năng lượng sinh khối.
- Xã hội nhận thức được sự đóng góp của việc khai thác năng lượng sinh khối vào tiến trình bảo vệ sự cân bằng môi trường sống và vai trò của nó trong việc điều tiết khí hậu.
- Các cơ hội sẵn có và tiềm năng phát triển thương mại năng lượng sinh khối.
- Tiến bộ trong sự hiểu biết về năng lượng sinh khối cũng như sự phát triển trong các kỹ thuật khai thác chuyển đổi năng lượng sinh khối cũng như các dạng năng lượng tái tạo khác.
Ngoài những điểm kể trên, sự phát triển năng lượng sinh khối còn đang được khuyến khích thêm nữa do các yếu tố cụ thể sau:
- Mối lo ngại ngày càng tăng về sự thay đổi khí hậu toàn cầy sẽ dẫn tới việc tăng cường các chính sách mới cứng rắn hơn về việc giảm thiểu ô nhiễn không khí
- Sự nhận thức rộng rãi hơn của các tổ chức chính sách toàn cầu về tầm quan trọng của năng lượng sinh khối
- Sự gia tăng về nhu cầu năng lượng và sự tăng trưởng nhanh của thị trường năng lượng tái tạo
- Con số các quốc gia bắt đầu vạch thảo và áp dụng các chính sách hỗ trợ phát triển năng lượng mới ngày càng tăng, với năng lượng sinh khối đóng vai trò trọng tâm
- Các áp lực về môi trường, cộng với sự cạn kiệt về nguồn tài nguyên dẫn tới việc tăng giá nhiên liệu hóa thạch, chưa kể tới các chi phí "phụ trợ" khác đang khiến giá năng lượng ngày càng tăng cao. Điều này sẽ rút giảm dần khoảng cách về chi phí giữa nl tái tạo và năng lượng truyền thống.
- Cho dù kỹ thuật hiện nay vẫn chưa đạt được mức thỏa mãn về thương mại hóa năng lượng sinh khối, nhưng với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, khoảng cách về thời gian sẽ được rút ngắn dần.
TRANG CHỦ BIOMASS KHÍ HÓA TRẤU PHÂN LOẠI THƯ GIÃN ỨNG DỤNG KHÍ HÓA



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét